Cao đẳngĐại họcĐào tạo liên thôngThông tin tuyển sinh

Hanu Edu Vn – Thông tin tuyển sinh đào tạo Đại học Cao đẳng

Hanu Edu Vn đang là thông tin được nhiều người quan tâm tìm hiểu để lựa chọn theo học sau nhiều đợt giãn cách kéo dài do dịch. Website BzHome sẽ giới thiệu cho bạn những thông tin mới nhất chính xác nhất về Hanu Edu Vn trong bài viết này nhé!

Video: [Vietsub] Điểm khác biệt của Công tử và Hạc Thủ Nguyệt khi bị crush phũ (dzui gần chớt)

Bạn đang xem video [Vietsub] Điểm khác biệt của Công tử và Hạc Thủ Nguyệt khi bị crush phũ (dzui gần chớt) mới nhất trong danh sách Thông tin tuyển sinh được cập nhật từ kênh THEO DẤU CHÂN UÔNG ĐẠC-WANG DUO- 汪铎 từ ngày 2021-09-25 với mô tả như dưới đây.

Liên hệ: 1807030071@s.hanu.edu.vn

Một số thông tin dưới đây về Hanu Edu Vn:

A. GIỚI THIỆU

  • Tên trường: Đại học Hà Nội
  • Tên tiếng Anh: Ha Noi University
  • Mã trường: NHF
  • Loại trường: Công lập
  • Hệ đào tạo: Đại học – Sau đại học – Văn bằng 2 – Tại chức – Liên kết nước ngoài
  • Địa chỉ: Km 9, Đường Nguyễn Trãi, Quận Thanh Xuân, Hà Nội.
  • SĐT: (024) 38544338
  • Email: hanu@hanu.edu.vn
  • Website: / 
  • Facebook: /cdktdn-edu-vn-thong-tin-tuyen-sinh-dao-tao-dai-hoc-cao-dang/

B. THÔNG TIN TUYỂN SINH NĂM 2022

I. Thông tin chung

1. Thời gian xét tuyển

  • Thời gian xét tuyển đợt 1: Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

2. Đối tượng tuyển sinh

  • Thí sinh đã tốt nghiệp chương trình THPT của Việt Nam (theo hình thức giáo dục chính quy hoặc giáo dục thường xuyên) hoặc đã tốt nghiệp trình độ trung cấp hoặc đã tốt nghiệp chương trình THPT của nước ngoài (đã được nước sở tại cho phép thực hiện, đạt trình độ tương đương trình độ THPT của Việt Nam) ở nước ngoài hoặc ở Việt Nam.
  • Có đủ sức khoẻ để học tập theo quy định hiện hành. Đối với người khuyết tật được cấp có thẩm quyền công nhận bị dị dạng, dị tật, suy giảm khả năng tự lực trong sinh hoạt và học tập thì Hiệu trưởng xem xét, quyết định cho vào ngành học phù hợp với tình trạng sức khoẻ.

3. Phạm vi tuyển sinh

  • Tuyển sinh trong cả nước.

4. Phương thức tuyển sinh

4.1. Phương thức xét tuyển

  • Phương thức 1 – Xét tuyển thẳng theo quy định của Bộ GD&ĐT (gồm cả ưu tiên xét tuyển thẳng): chiếm 5% tổng chỉ tiêu.
  • Phương thức 2 – Xét tuyển kết hợp theo quy định của Trường Đại học Hà Nội: chiếm 45% tổng chỉ tiêu.
  • Phương thức 3 – Xét tuyển dựa trên kết quả của kì thi tốt nghiệp THPT năm 2022: chiếm 50% tổng chỉ tiêu.

Trong trường hợp Trường không tuyển hết số chỉ tiêu theo phương thức 1 và 2, các chỉ tiêu đó sẽ dành cho phương thức 3.

4.2. Ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào, điều kiện nhận ĐKXT

  • Thí sinh có tổng điểm 03 môn thi Toán, Ngữ Văn, Ngoại ngữ hoặc Toán, Vật lý, Tiếng Anh của kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2022 đạt 16 điểm trở lên (theo thang điểm 10, chưa nhân hệ số).

4.3. Chính sách ưu tiên và tuyển thẳng

  • Tuyển thẳng theo quy định của Bộ GD&ĐT.
  • Ưu tiên xét tuyển thẳng (dành cho các đối tượng thuộc diện tuyển thẳng nhưng không sử dụng quyền tuyển thẳng).

5. Học phí

Học phí áp dụng đối với sinh viên chính quy khóa 2022, cụ thể như sau:

– Nhóm dạy chuyên ngành bằng ngoại ngữ:

+ Các học phần thuộc khối kiến thức giáo dục đại cương: 600.000 đ/tín chỉ.

+ Các học phần thuộc khối kiến thức cơ sở ngành, chuyên ngành, bổ trợ, dự án tốt nghiệp, thực tập và khóa luận tốt nghiệp:

  • 700.000 đ/tín chỉ (với ngành Truyền thông doanh nghiệp dạy bằng tiếng Pháp).
  • 750.000 đ/tín chỉ (với các ngành dạy bằng tiếng Anh).
  • 1.300.000 đ/tín chỉ (với CTĐT chất lượng cao ngành Công nghệ thông tin và ngành Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành dạy bằng tiếng Anh).

– Nhóm ngành Ngôn ngữ:

+ Các học phần của CTĐT tiêu chuẩn và các học phần thuộc khối kiến thức giáo dục đại cương và cơ sở ngành (dạy bằng tiếng Việt) của CTĐT chất lượng cao: 600.000 đ/tín chỉ.

+ Các học phần thuộc khối kiến thức cơ sở ngành (dạy bằng ngoại ngữ), ngành, chuyên ngành, thực tập và khóa luận tốt nghiệp của CTĐT chất lượng cao:

  • 770.000 đ/tín chỉ (với ngành Ngôn ngữ Italia).
  • 940.000 đ/tín chỉ (với ngành Ngôn ngữ Trung Quốc và Ngôn ngữ Hàn Quốc).

Ghi chú: Mức học phí được điều chỉnh từng năm học theo lộ trình điều chỉnh học phí của Chính phủ và tùy thuộc tình hình thực tế nhưng tăng không quá 15%/năm học (Thực hiện theo Nghị định số 81/2021/NĐ-CP ngày 27/8/2021 của Chính phủ).

II. Các ngành tuyển sinh 

TT Mã ngành Tên ngành Tổ hợp môn xét tuyển Chỉ tiêu 2022
1 7220201 Ngôn ngữ Anh Toán, Ngữ Văn, TIẾNG ANH (D01) 300
2 7220202 Ngôn ngữ Nga Toán, Ngữ Văn, TIẾNG NGA (D02) hoặc TIẾNG ANH (D01) 150
3 7220203 Ngôn ngữ Pháp Toán, Ngữ văn, TIẾNG PHÁP (D03) hoặc TIẾNG ANH (D01) 120
4 7220204 Ngôn ngữ Trung Quốc Toán, Ngữ Văn, TIẾNG TRUNG (D04) hoặc TIẾNG ANH (D01) 200
5 7220204 CLC Ngôn ngữ Trung Quốc – CLC Toán, Ngữ Văn, TIẾNG TRUNG (D04) hoặc TIẾNG ANH (D01) 100
6 7220205 Ngôn ngữ Đức Toán, Ngữ Văn, TIẾNG ANH (D01) hoặc TIẾNG ĐỨC (D05) 125
7 7220206 Ngôn ngữ Tây Ban Nha Toán, Ngữ Văn, TIẾNG ANH (D01) 100
8 7220207 Ngôn ngữ Bồ Đào Nha Toán, Ngữ Văn, TIẾNG ANH (D01) 60
9 7220208 Ngôn ngữ Italia Toán, Ngữ Văn, TIẾNG ANH (D01) 75
10 7220208 CLC Ngôn ngữ Italia – CLC Toán, Ngữ Văn, TIẾNG ANH (D01) 60
11 7220209 Ngôn ngữ Nhật Toán, Ngữ Văn, TIẾNG NHẬT (D06) hoặc TIẾNG ANH (D01) 175
12 7220210 Ngôn ngữ Hàn Quốc Toán, Ngữ Văn, TIẾNG ANH (D01) hoặc TIẾNG HÀN QUỐC (DD2) 100
13 7220210 CLC Ngôn ngữ Hàn Quốc – CLC Toán, Ngữ Văn, TIẾNG ANH (D01) hoặc TIẾNG HÀN QUỐC (DD2) 140
14 7310111 Nghiên cứu phát triển Toán, Ngữ Văn, TIẾNG ANH (D01) 50
15 7310601 Quốc tế học Toán, Ngữ Văn, TIẾNG ANH (D01) 125
16 7320104 Truyền thông đa phương tiện Toán, Ngữ Văn, tiếng Anh (D01) 75
17 7320109 Truyền thông doanh nghiệp Toán, Ngữ văn, TIẾNG PHÁP (D03) hoặc TIẾNG ANH (D01) 60
18 7340101 Quản trị Kinh doanh Toán, Ngữ Văn, TIẾNG ANH (D01) 100
19 7340115 Marketing Toán, Ngữ Văn, TIẾNG ANH (D01) 75
20 7340201 Tài chính – Ngân hàng Toán, Ngữ Văn, TIẾNG ANH (D01) 100
21 7340301 Kế toán Toán, Ngữ Văn, TIẾNG ANH (D01) 100
22 7480201 Công nghệ Thông tin Toán, Ngữ Văn, tiếng Anh (D01) Toán, Vật lý, tiếng Anh (A01) 200
23 7480201 CLC Công nghệ thông tin – CLC Toán, Ngữ Văn, tiếng Anh (D01) Toán, Vật lý, tiếng Anh (A01) 100
24 7810103 Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành Toán, Ngữ Văn, TIẾNG ANH (D01) 100
25 7810103 CLC Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành – CLC Toán, Ngữ Văn, TIẾNG ANH (D01) 50
26 7220101 Tiếng Việt và Văn hoá Việt Nam Xét học bạ 300
  CỘNG 3140
Các chương trình đào tạo chính quy liên kết với nước ngoài
(hình thức xét tuyển: Học bạ và trình độ tiếng Anh)
27. Quản trị kinh doanh, chuyên ngành kép Marketing và Tài chính Đại học La Trobe (Australia) cấp bằng 100
28. Quản trị Du lịch và Lữ hành Đại học IMC Krems (Cộng hòa Áo) cấp bằng 60
29. Kế toán Ứng dụng Đại học Oxford Brookes (Vương quốc Anh) và Hiệp hội Kế toán Công chứng Anh quốc (ACCA)cấp bằng 50
30. Cử nhân Kinh doanh ĐH Waikato (New Zealand) cấp bằng 30
  CỘNG 240

*Xem thêm: Các tổ hợp môn xét tuyển Đại học – Cao đẳng

Quá trình hình thành và phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Trường được thành lập ngày 16/7/1959 theo quyết định số 376/NĐ-BGD với tên gọi Trường Ngoại ngữ. Trải qua hơn 60 năm hình thành và phát triển, Nhà trường đã có một số lần được đổi tên, mỗi sự kiện ấy đều gắn với những thăng trầm và bối cảnh lịch sử xã hội theo từng thời kỳ như: Trường Ngoại ngữ (1959-1960), Trường Bổ túc Ngoại ngữ (1960-1967), Trường Đại học Ngoại ngữ (1967-1978), Trường Cao đẳng Bổ túc Ngoại ngữ (1978-1984), Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội (1984-2006) và từ ngày 15 tháng 9 năm 2006, theo quyết định số 190/2006/QĐ-TTg[3] của Thủ tướng chính phủ, trường chính thức mang tên mới là Trường Đại học Hà Nội (tên giao dịch tiếng Anh là Hanoi University – HANU).

Trong hơn 60 năm xây dựng và phát triển, Trường Đại học Hà Nội đã trải qua 04 giai đoạn chính:

1. Giai đoạn 1959 – 1966[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến thắng Điện Biên Phủ (ngày 7/5/1954) và Hiệp định Giơ-ne-vơ (ký ngày 20/7/1954) đã kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược và đế quốc Mỹ can thiệp. Đất nước ta bước sang giai đoạn mới với hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Tình hình và nhiệm vụ mới đòi hỏi miền Bắc phải khẩn trương phục hồi nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá và tạo dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội một cách toàn diện cả về công nghiệp và nông nghiệp, củng cố an ninh – quốc phòng, phát triển văn hoá – giáo dục nhằm xây dựng miền Bắc thành hậu phương vững chắc cho tiền tuyến miền Nam.

Để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ đó, Đảng ta chủ trương tự lực cánh sinh là chính, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế về kỹ thuật và chuyên gia, dựa vào hệ thống giáo dục tiên tiến của các nước XHCN anh em để nhanh chóng đào tạo một đội ngũ cán bộ khoa học – kỹ thuật toàn diện. Một vấn đề cấp bách được đặt ra và yêu cầu được đáp ứng, đó là:

Bồi dưỡng cấp tốc về ngoại ngữ cho hàng ngàn học sinh và cán bộ được tuyển chọn đi học đại học ở nước ngoài;

Đào tạo thường xuyên ở trong nước đội ngũ phiên dịch phục vụ công tác của các chuyên gia nước ngoài.

Chính vì lý do đó, ngày 01/11/1959, tại cơ sở của Tổng cục Hậu cần Bộ Quốc phòng dựng tạm bằng tre nứa ở xã Ngọc Thụy – huyện Gia Lâm – Hà Nội, khoá chuyên tu tiếng Nga và tiếng Trung Quốc đầu tiên được khai giảng, mở ra trang thứ nhất trong lịch sử 60 năm xây dựng và phát triển của một trong những cơ sở đào tạo và nghiên cứu ngoại ngữ lớn và có uy tín ở Việt Nam là Trường Ngoại ngữ (ngày nay là Trường Đại học Hà Nội).

Trong khoảng thời gian 07 năm đầu thành lập (1959-1966), Trường đã đổi tên 2 lần, từ Trường Ngoại ngữ thành Trường Bổ túc Ngoại ngữ. Đây là giai đoạn có biến động mạnh về số lượng cán bộ, giảng viên cũng như đối tượng và số lượng sinh viên cần đào tạo và bồi dưỡng. Từ những ngày đầu giảng dạy với giáo trình “ăn đong”, chép tay từng bài, Nhà trường đã triển khai biên soạn và in giáo trình bài bản hơn cùng các chuyên gia Liên Xô và Trung Quốc. Hoạt động trao đổi học thuật chủ yếu để phục vụ đào tạo cũng được tổ chức đều đặn trong thời kỳ gian  khổ đấy, làm nền tảng cho các nghiên cứu về khoa học ngoại ngữ, chuẩn bị cho sự ra đời của Nội san Ngoại ngữ vào năm 1967 (từ năm 2005 trở thành Tạp chí Khoa học Ngoại ngữ, tạp chí đầu tiên của Việt Nam trong lĩnh vực này). Trong điều kiện cơ sở vật chất thiếu thốn tại Gia Lâm và sau này là Mễ Trì (Từ Liêm, Hà Nội) cũng như trong hoàn cảnh chiến tranh ném bom bắn phá miền Bắc của đế quốc Mỹ, tất cả đội ngũ của Nhà trường từ lãnh đạo cao nhất đến đội ngũ các anh, chị nuôi đã luôn làm việc tận tâm, tất cả vì chất lượng học tập và đời sống của sinh viên. Nhà trường đã sẵn sàng đón đầu thời cơ phát triển mới.

2. Giai đoạn 1966 – 2000[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là một giai đoạn dài với nhiều sự kiện thăng trầm đã diễn ra trong quá trình xây dựng và phát triển của Nhà trường. Những thách thức mà Nhà trường phải đối diện giai đoạn này là: đào tạo một số lượng lớn lưu học sinh, cán bộ biên – phiên dịch, giảng viên ngoại ngữ trong thời kỳ chiến tranh gian khổ cũng như thời kỳ tái thiết đất nước khi hòa bình lập lại; biến cố trong quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc dẫn đến việc cả nước dừng đào tạo ngành Ngôn ngữ Trung Quốc từ năm 1978 đến năm 1986; cuộc khủng hoảng chính trị ở Liên Xô và các nước Đông Âu dẫn đến việc dừng đào tạo lưu học sinh cũng như đào tạo ngôn ngữ của một số nước này… Trước những sự kiện đó, Nhà trường đã từng bước xoay chuyển cục diện, biến khó khăn thành hành động, thay đổi cơ cấu tổ chức, hình thức đào tạo, ngành nghề đào tạo, thiết lập quan hệ hợp tác với nước ngoài, tranh thủ tối đa sự tài trợ về cơ sở vật chất và thiết bị của các đối tác nước ngoài, đưa Nhà trường phát triển đi lên, làm nền tảng vững chắc cho sự phát triển mạnh mẽ để sau này trở thành một trường đại học đa ngành.

Các mốc lịch sử của Nhà trường giai đoạn này:

– Năm 1967, Từ Trường Bổ túc ngoại ngữ, Nhà trường được Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng ký Quyết định số 126/CP thành lập Trường Đại học ngoại ngữ. Từ thời điểm này, Nhà trường chính thức trở thành cơ sở giáo dục đại học;

– Năm 1977, trước những khó khăn của đất nước trong hoàn cảnh bắt đầu công cuộc tái thiết sau chiến tranh và tình hình đào tạo của Nhà trường, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp đã quyết định chuyển nhiệm vụ đào tạo cán bộ chuyên ngành ngoại ngữ (phiên dịch và giáo viên) mà Nhà trường đang thực hiện sang một cơ sở giáo dục đại học khác và đổi tên Trường Đại học Ngoại ngữ thành thành Trường Cao đẳng Bổ túc ngoại ngữ;

– Năm 1984, đánh dấu 25 năm xây dựng và phát triển, Nhà trường được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba lần thứ hai và đổi tên Trường Cao đẳng Bổ túc Ngoại ngữ thành Trường Đại học Ngoại ngữ;

– Năm 1989 và năm 1994, với những thành tích đã đạt được, đóng góp vào sự nghiệp cải cách giáo dục trong ngành ngoại ngữ, Nhà trường được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động Hạng Nhất nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập Trường (1959-1989) và 35 năm thành lập Trường (1959 – 1994).

3. Giai đoạn 2000 – 2009[sửa | sửa mã nguồn]

Trong bối cảnh đất nước đã đã thực sự mở cửa và sẵn sàng hội nhập sau những thay đổi tích cực nhờ chủ trương đổi mới của Nhà nước. Đây vừa là một cơ hội, vừa là một thách thức đối với ngành giáo dục nói chung và với Trường Đại học Ngoại ngữ nói riêng. Đảng ủy, Ban Giám hiệu Nhà trường luôn tích cực tìm tòi để không ngừng phát triển, đáp ứng được nhu cầu đào tạo trong bối cảnh mới, vượt ra ngoài khuôn khổ chỉ giảng dạy chuyên ngữ. Phát huy thế mạnh truyền thống về giảng dạy và nghiên cứu ngoại ngữ, Nhà trường đã mạnh dạn tiên phong đi đầu toàn quốc trong việc mở các chuyên ngành dạy-học bằng ngoại ngữ.

Trước nhu cầu của xã hội về nguồn nhân lực vừa có chuyên môn tốt, vừa giỏi ngoại ngữ, năm 2000, Nhà trường đã đề xuất với Bộ Giáo dục và Đào tạo cho mở các chuyên ngành giảng dạy bằng tiếng Anh. Được sự ủng hộ của Bộ, nhiều chuyên ngành đã được triển khai như: Quản trị Kinh doanh (năm 2002), Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành (năm 2002), Quốc tế học (năm 2002), Công nghệ Thông tin (năm 2005), Tài chính – Kế toán (năm 2006). Riêng ngành CNTT còn có 01 chương trình cử nhân giảng dạy bằng tiếng Nhật (năm 2007). Việc Nhà trường mở thêm 06 chuyên ngành giảng dạy bằng ngoại ngữ đã khẳng định mạnh mẽ quyết tâm trở thành một trường đại học đa ngành. Đồng thời, đây cũng là giai đoạn Trường mở thêm một số ngành đào tạo ngôn ngữ mới, phục vụ cho nhu cầu đối ngoại cũng như thị trường lao động của thời kỳ toàn cầu hoá: ngôn ngữ Tây Ban Nha (năm 2002), ngôn ngữ Italia (năm 2002), ngôn ngữ Hàn Quốc (năm 2002), ngôn ngữ Bồ Đào Nha (năm 2004), tiếng Việt và Văn hoá Việt Nam (dành cho người nước ngoài, năm 2004).

Năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 190/2006/QĐ-TTg ngày 17/8/2006 việc đổi tên Trường Đại học Ngoại ngữ thành Trường Đại học Hà Nội. Việc mở thêm 11 ngành mới trong đó có nhiều ngành đáp ứng được nguồn nhân lực chất lượng cao, giỏi chuyên môn và thành thạo ngoại ngữ cũng như việc đổi tên thành Trường Đại học Hà Nội năm 2006 đã thực sự đem lại cho Trường Đại học Ngoại ngữ một vị thế mới trong nền giáo dục quốc dân.

Năm 2004, với những thành tích đã đạt được Trường Đại học Hà Nội được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập Hạng Ba nhân dịp kỷ niệm 45 năm thành lập Trường (1959–2004).

4. Giai đoạn từ 2009 đến nay[sửa | sửa mã nguồn]

Bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, hội nhập giáo dục đại học quốc tế là xu hướng tất yếu trong định hướng và chiến lược phát triển của tất cả các cơ sở giáo dục đại học trong nước, trong khu vực và trên thế giới. Sự cạnh tranh giữa các trường đại học, các cơ sở giáo dục đại học trong nước, các chương trình liên kết với nước ngoài và các trường đại học nước ngoài tại Việt Nam diễn ra quyết liệt. Bên cạnh đó là các vấn đề phân tầng, kiểm định chất lượng, xếp hạng các trường đại học đòi hỏi các cơ sở giáo dục đại học phải không ngừng đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo. Trường Đại học Hà Nội không nằm ngoài xu thế và dòng chảy chung đó của thời đại – thời đại toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp 4.0.

Giai đoạn 2009-2019 có thể coi là giai đoạn bản lề cho định hướng quốc tế hóa các chương trình đào tạo nhằm đẩy nhanh tiến trình hội nhập giáo dục đại học quốc tế, từng bước tự chủ về tài chính, tiến tới thực hiện cơ chế tự chủ hoàn toàn và tự chịu trách nhiệm công khai, giải trình về tất cả các lĩnh vực hoạt động của Trường. Đây được xem là tiền đề, là mục tiêu cũng như thế mạnh của Nhà trường trong tiến trình đổi mới và hội nhập. Trong giai đoạn này, Trường đã mở thêm 03 chương trình cử nhân chuyên ngành dạy-học bằng tiếng Anh và tiếng Pháp, 03 chương trình ngôn ngữ chất lượng cao, 02 chương trình thạc sĩ và đặc biệt là 13 chương trình liên kết. Bên cạnh hợp tác quốc tế trong trao đổi sinh viên, giảng viên, chuyên viên thì Nhà trường còn đẩy mạnh hợp tác để xây dựng chương trình, giáo trình, hội thảo khoa học; hợp tác thực hiện dự án, đề tài nghiên cứu; hợp tác quốc tế trong hoạt động phụng sự cộng đồng.

Trường Đại học Hà Nội – Wikipedia tiếng Việt

Ngoài những thông tin về chủ đề Hanu Edu Vn này bạn có thể xem thêm nhiều bài viết liên quan đến Thông tin học phí khác tại đây nhé.

Vậy là chúng tôi đã cập nhật những thông tin hot nhất, được đánh giá cao nhất về Hanu Edu Vn trong thời gian qua, hy vọng những thông tin này hữu ích cho bạn.

Cảm ơn bạn đã ghé thăm. Hãy thường xuyên truy cập chuyên mục Thông tin sự kiện để update thêm nhé! Hãy like, share, comment bên dưới để chúng tôi biết được bạn đang cần gì nhé!

Related Articles

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Back to top button